qTranslate:
HOTLINE 0909 246 166

12 MŨI TIÊM PHÒNG CHO TRẺ MẸ KHÔNG ĐƯỢC PHÉP BỎ QUA

| 13/10/2017

Trẻ sơ sinh với sức đề kháng kém rất dễ mắc các bệnh truyền nhiễm và tiêm chủng là cách an toàn nhất để bảo vệ bé. Chủng ngừa giúp ngăn ngừa sự lây lan của dịch bệnh và giúp bảo vệ trẻ em và trẻ sơ sinh khỏi những biến chứng nguy hiểm. Sau đây là 12 mũi tiêm phòng quan trọng cho con mẹ đặc biệt không được phép bỏ qua.

Ngay từ khi vừa lọt lòng thì bé đã phải nhận những mũi tiêm phòng vắc xin đầu tiên, nhìn thấy thiên thần bé nhỏ khóc vì tiêm phòng làm lòng mẹ đau thắt lại. Nhưng thật sự tiêm vắc xin là một trong những vấn đề bắt buộc và chắc chắn phải tuân theo, nhờ có vắc xin mà giúp cơ thể non nớt của bé sản sinh các kháng thể, giúp bé miễn nhiễm với một số loại bệnh thường gặp và nguy hiểm. Cho nên hãy cho bé tham gia đầy đủ lịch tiêm phòng, trừ những trường hợp bé bị bệnh nặng thì bác sĩ sẽ thay đổi lịch tiêm phòng cho bé.

Các vắc xin cần tiêm cho trẻ sơ sinh

Mỗi loại vắc xin đều có tính chất riêng và nguyên lý riêng để phòng tránh các loại bệnh dịch khác nhau, cho nên các bố mẹ hãy tìm hiểu rõ thông tin và tuân theo lịch tiêm phòng cố định của bác sĩ đưa ra để đưa bé đi tiêm phòng các loại vắc xin vào các thời điểm tốt và chính xác nhất.

1. Viêm gan B

Vắc xin viêm gan B cần được tiêm cho trẻ ngay sau khi sinh 24h. Đây là mũi tiêm phòng cho trẻ các mẹ không được phép quên. Khi trẻ được 1 đến 2 tháng tuổi, mẹ cần cho con tiêm nhắc lại một liều tương tự, và thêm một phần ba liều khi trẻ 6 đến 18 tháng tuổi. Loại vắc xin này sẽ giúp cơ thể con chống lại virus viêm gan B, lây truyền qua máu và dịch tiết cơ thể. Sau khi tiêm, con có thể bị đau ở vết tiêm hoặc sốt nhẹ. Nếu có những biểu hiện bất thường khác, mẹ nên đưa con tới bệnh viện sớm.

2. Bạch hầu, ho gà, uốn ván

Bệnh bạch hầu do một loại vi khuẩn gây nên, khiến cổ họng trẻ biến thành màu xám, đen. Bệnh uốn ván có thể gây co thắt cơ bắp mạnh, khiến xương của bé có thể bị phá vỡ. Còn ho gà là một căn bệnh rất dễ lây lan và không thể kiểm soát được cơn ho. Tiêm phòng DTaP sẽ giúp trẻ chống lại 3 căn bệnh nguy hiểm này. Trẻ cần được tiêm 5 liều ở các độ tuổi 2 tháng, 4 tháng, 6 tháng, 15 đến 18 tháng và 4 đến 6 tuổi. Ngoài ra, nên tiêm nhắc lại khi trẻ 11 đến 12 tuổi. Sau đó, cứ 10 năm nên tiêm lại 1 lần.

3. Mũi tiêm MMR

Loại vắc xin MMR sẽ giúp bảo vệ trẻ khỏi 3 loại virus: sởi (gây sốt cao, phát ban toàn cơ thể trẻ); quai bị (gây đau mặt, sưng tuyến nước bọt, và đôi khi bìu sưng ở bé trai); và rubella hay bệnh sởi Đức (mà có thể gây dị tật bẩm sinh nếu có nhiễm trùng xảy ra trong thai kỳ).

Vắc xin MMR cần được tiêm khi trẻ được 12 đến 15 tháng tuổi và tiêm nhắc lại khi trẻ được 4 đến 6 tuổi.

4. Bệnh thủy đậu

Thủy đậu là căn bệnh gây phát ban do virus thủy đậu gây ra. Bệnh lây lan rất nhanh, dẫn đến nhiễm trùng và nhiều biến chứng nguy hiểm khác cho sức khỏe. Do đó, trẻ cần được tiêm phòng thủy đậu ở độ tuổi 12 đến 15 tháng, và nhắc lại khi được 4 đến 6 tuổi.

5. Vắc xin Haemophilus cúm B (Hib)

Haemophilus cúm B là loại vi khuẩn gây viêm màng não ở trẻ. Nếu viêm bao quanh não và tủy sống sẽ đặc biệt nguy hiểm cho trẻ em dưới 5 tuổi. Do đó, bạn cần cho con tiêm vắc xin Hib, để bảo vệ con khỏi căn bệnh nguy hiểm này. Thời điểm tiêm thích hợp nhất là khi trẻ ở độ tuổi 2 tháng, 4 tháng, 6 tháng và 12 đến 15 tháng tuổi.

6. Bệnh bại liệt (IPV)

Trẻ mắc bệnh bại liệt có thể gây tê liệt cơ thể, thậm chí tử vong rất nguy hiểm. Trẻ được tiêm phòng vắc xin bại liệt, có thể loại trừ hoàn toàn virus gây bệnh khỏi cơ thể. vắc xin bại liệt IPV nên được tiêm khi trẻ 2 tháng, 4 tháng, 6 đến 18 tháng tuổi và tiêm nhắc lại ở độ tuổi từ 4 đến 6 tuổi.

7. Phế cầu khuẩn liên hợp (PCV)

Vắc xin phế cầu khuẩn liên hợp còn được gọi là PCV13, giúp bảo vệ cơ thể bé khỏi 13 loại vi khuẩn, gây ra các tình trạng xáo trộn sức khỏe ở trẻ như viêm màng não, viêm phổi, nhiễm trùng tai, nhiễm trùng máu, và thậm chí tử vong. PCV13 cần được tiêm 4 mũi, khi trẻ được 2 tháng, 4 tháng, 6 tháng và 12 đến 15 tháng tuổi. Khi tiêm loại vắc xin này, trẻ có thể gặp một vài tác dụng phụ như buồn ngủ, sưng tại vết tiêm, sốt nhẹ và khó chịu.

8. Bệnh cúm (flu)

Vắc xin phòng bệnh cúm thường được tiêm vào các mùa thu trong năm. Các bà mẹ được khuyến nghị, nên tiêm loại vắc xin này cho con ở độ tuổi từ 6 tháng tuổi trở lên. Khi tiêm, trẻ có thể gặp một vài tác dụng phụ như đau nhức, tấy đỏ, sưng tại vết tiêm hoặc sốt nhẹ. Các mẹ cũng cần biết thêm một vài cách chữa cúm cho bé để bảo vệ cho sức khoẻ của con yêu.

9. Virus Rota (RV)

Virus Rota (RV) là một loại virus gây ra bệnh tiêu chảy cấp cho trẻ. Do đó, mẹ nên cho con dùng thuốc phòng virus Rota khi con được 2 tháng và 4 tháng tuổi. Loại thuốc này được sản xuất ở dạng lỏng dùng để uống. Khi cho con uống thuốc phòng virus Rota, trẻ có thể bị tiêu chảy nhẹ hoặc nôn mửa.

10. Viêm gan A

Virus viêm gan A có thể xâm nhập vào trẻ từ đồ ăn hay thức uống bị ô nhiễm. Bệnh sẽ gây tổn hại gan với những triệu chứng như sốt, mệt mỏi, vàng da, chán ăn. Vì thế khi con được 12 đến 23 tháng tuổi, mẹ nên đưa trẻ đi tiêm phòng viêm gan A. Mũi tiêm nhắc lại cách mũi đầu ít nhất 6 tháng.

11. Viêm màng não (MCV4)

Vắc xin viêm màng não, còn được gọi là MCV4, sẽ giúp bảo vệ trẻ khỏi vi khuẩn gây bệnh viêm màng não, bệnh có thể lây nhiễm ở các màng bao quanh não và tủy sống. Thời điểm tiêm tốt nhất cho trẻ là ở độ tuổi 11 đến 12 tuổi.

12. Human papillomavirus (HPV)

Human papillomavirus (HPV) là vắc xin phòng ngừa ung thư cổ tử cung, được khuyến khích tiêm cho các em gái ở độ tuổi từ 9 đến 26 tuổi. Loại vắc xin này cần được tiêm 3 liều trong thời gian 6 tháng, để bảo vệ con bạn khỏi hai loại virus lây truyền qua đường tình dục, gây ung thư cổ tử cung.

Lưu ý sau khi tiêm cho trẻ

  • Ngồi lại theo dõi 15-30 phút, xem có dị ứng với thuốc không.
  • Cha mẹ nên chườm mát nơi tiêm (không chườm nóng), cho trẻ uống nhiều nước, bú mẹ nhiều hơn, mặc đồ thoáng.
  • Trẻ sốt nhẹ sốt 37-38 độ C thì có thể dùng các biện pháp làm mát, hạ nhiệt, thuốc hạ sốt đặt hậu môn. Nếu sốt trên 38 độ thì dùng thuốc hạ sốt, tác dụng nhanh hơn.
  • Nếu trẻ có biểu hiện bất thường sau tiêm, cha mẹ có thể liên hệ với nhân viên tư vấn hoặc cán bộ y tế để được tư vấn.

Nguồn: Thông tin y tế